
Theo số liệu do Cục Thống kê Nhật Bản công bố hôm thứ Sáu, Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) Tokyo tháng 1 tăng 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái, so với mức tăng 2,0% của tháng trước.
Ngoài ra, CPI Tokyo không bao gồm thực phẩm tươi sống tăng 2,0% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 1, thấp hơn mức dự báo 2,2% và 2,3% của tháng trước. CPI Tokyo không bao gồm thực phẩm tươi sống và năng lượng tăng 2,0% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 1, so với mức 2,3% của tháng trước, thấp hơn mức dự báo 2,2% của thị trường.
Tại thời điểm viết bài, cặp USD/JPY đã giảm 0,17% trong ngày ở mức 153,12.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Yên Nhật (JPY) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đồng Yên Nhật mạnh nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.24% | -0.11% | -0.28% | -0.56% | -0.36% | -0.46% | -0.68% | |
| EUR | 0.24% | 0.13% | -0.05% | -0.32% | -0.12% | -0.23% | -0.44% | |
| GBP | 0.11% | -0.13% | -0.17% | -0.45% | -0.27% | -0.38% | -0.57% | |
| JPY | 0.28% | 0.05% | 0.17% | -0.27% | -0.08% | -0.21% | -0.39% | |
| CAD | 0.56% | 0.32% | 0.45% | 0.27% | 0.20% | 0.08% | -0.12% | |
| AUD | 0.36% | 0.12% | 0.27% | 0.08% | -0.20% | -0.11% | -0.31% | |
| NZD | 0.46% | 0.23% | 0.38% | 0.21% | -0.08% | 0.11% | -0.21% | |
| CHF | 0.68% | 0.44% | 0.57% | 0.39% | 0.12% | 0.31% | 0.21% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Yên Nhật từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho JPY (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Phần này dưới đây được công bố vào lúc 22:36 GMT như một cái nhìn trước về dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Tokyo, Nhật Bản
Cục Thống kê Nhật Bản sẽ công bố dữ liệu cho tháng 1 vào thứ Sáu lúc 23.30 GMT. CPI Tokyo đo lường sự biến động giá của hàng hóa và dịch vụ được các hộ gia đình mua sắm trong khu vực Tokyo, không bao gồm thực phẩm tươi sống, có giá thường xuyên biến động tùy thuộc vào thời tiết. Chỉ số này được coi là một chỉ báo hàng đầu về CPI tổng thể của Nhật Bản, vì nó được công bố trước vài tuần so với số liệu toàn quốc.
CPI Tokyo không bao gồm thực phẩm tươi sống và năng lượng dự kiến sẽ cho thấy mức tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 1 so với 2,3% trước đó, trong khi CPI Tokyo không bao gồm thực phẩm tươi sống được dự đoán sẽ tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước trong cùng kỳ, so với 2,3% trong tháng 12.
USD/JPY giao dịch với xu hướng tiêu cực trong ngày trước báo cáo CPI Tokyo Nhật Bản. Cặp tiền chính này mất giá khi Đô la Mỹ (USD) suy yếu giữa những lo ngại về sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và những lo ngại về một cuộc đóng cửa chính phủ Mỹ khác.
Nếu dữ liệu công bố nóng hơn mong đợi, nó có thể nâng cao giá Yên Nhật (JPY), với rào cản tăng đầu tiên được nhìn thấy tại Đường trung bình động hàm mũ (EMA) 100 ngày ở mức 154,22. Mức kháng cự tiếp theo xuất hiện tại mức cao ngày 26 tháng 1 là 155,35, trên đường đến mức thấp tháng 1 là 155,68.
Về phía giảm, mức thấp ngày 29 tháng 1 là 152,68 sẽ mang lại một số sự an ủi cho người mua. Những tổn thất kéo dài có thể thấy mức giảm xuống mức thấp ngày 28 tháng 1 là 152,18. Rào cản tiếp theo nằm ở mức thấp ngày 28 tháng 10 năm 2025 là 151,76.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) là ngân hàng trung ương Nhật Bản, nơi thiết lập chính sách tiền tệ trong nước. Nhiệm vụ của ngân hàng này là phát hành tiền giấy và thực hiện kiểm soát tiền tệ và tiền tệ để đảm bảo ổn định giá cả, tức là mục tiêu lạm phát khoảng 2%.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng vào năm 2013 nhằm kích thích nền kinh tế và thúc đẩy lạm phát trong bối cảnh lạm phát thấp. Chính sách của ngân hàng dựa trên Nới lỏng định lượng và định tính (QQE), hoặc in tiền giấy để mua tài sản như trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp nhằm cung cấp thanh khoản. Vào năm 2016, ngân hàng đã tăng gấp đôi chiến lược của mình và nới lỏng chính sách hơn nữa bằng cách đầu tiên áp dụng lãi suất âm và sau đó trực tiếp kiểm soát lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm. Vào tháng 3 năm 2024, BoJ đã nâng lãi suất, về cơ bản là rút lui khỏi lập trường chính sách tiền tệ cực kỳ nới lỏng.
Gói kích thích khổng lồ của Ngân hàng đã khiến đồng Yên mất giá so với các đồng tiền chính. Quá trình này trở nên trầm trọng hơn vào năm 2022 và 2023 do sự khác biệt chính sách ngày càng tăng giữa Ngân hàng trung ương Nhật Bản và các ngân hàng trung ương chính khác, những ngân hàng đã chọn tăng mạnh lãi suất để chống lại mức lạm phát cao trong nhiều thập kỷ. Chính sách của BoJ đã dẫn đến chênh lệch ngày càng lớn với các loại tiền tệ khác, kéo giá trị của đồng Yên xuống. Xu hướng này đã đảo ngược một phần vào năm 2024, khi BoJ quyết định từ bỏ lập trường chính sách cực kỳ lỏng lẻo của mình.
Đồng Yên yếu hơn và giá năng lượng toàn cầu tăng đột biến đã dẫn đến lạm phát của Nhật Bản tăng, vượt quá mục tiêu 2% của BoJ. Triển vọng tăng lương ở nước này – một yếu tố chính thúc đẩy lạm phát – cũng góp phần vào động thái này.