Đồng đô la Úc (AUD) tăng vọt lên mức cao nhất trong gần hai tuần sau báo cáo lạm phát tháng Giêng cao hơn dự kiến, làm dấy lên suy đoán về việc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) sẽ tăng lãi suất thêm nữa.
Chỉ số đô la Mỹ (DXY) giảm xuống gần vùng giá 97,70 trong phiên giao dịch Mỹ do sự không chắc chắn về chính sách thương mại của Hoa Kỳ (Mỹ).
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đô la Mỹ (USD) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê hôm nay. Đô la Mỹ mạnh nhất so với Đồng Yên Nhật.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.27% | -0.40% | 0.34% | -0.18% | -0.88% | -0.52% | -0.13% | |
| EUR | 0.27% | -0.13% | 0.59% | 0.09% | -0.62% | -0.25% | 0.14% | |
| GBP | 0.40% | 0.13% | 0.74% | 0.21% | -0.49% | -0.13% | 0.26% | |
| JPY | -0.34% | -0.59% | -0.74% | -0.51% | -1.21% | -0.83% | -0.46% | |
| CAD | 0.18% | -0.09% | -0.21% | 0.51% | -0.70% | -0.33% | 0.05% | |
| AUD | 0.88% | 0.62% | 0.49% | 1.21% | 0.70% | 0.36% | 0.76% | |
| NZD | 0.52% | 0.25% | 0.13% | 0.83% | 0.33% | -0.36% | 0.39% | |
| CHF | 0.13% | -0.14% | -0.26% | 0.46% | -0.05% | -0.76% | -0.39% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đô la Mỹ từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đồng Yên Nhật, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho USD (đồng tiền cơ sở)/JPY (đồng tiền định giá).
EUR/USD đang giao dịch gần vùng giá 1,1800, tăng hơn 20%, khi dữ liệu lạm phát yếu hơn được công bố trước đó trong ngày tại khu vực Euro đã đẩy đồng Euro (EUR) tăng giá. Dữ liệu này củng cố kỳ vọng rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ duy trì lập trường chính sách ổn định.
GBP/USD đang giao dịch gần mức 1,3550, phục hồi từ giai đoạn tích lũy và leo lên mức cao nhất trong một tuần. Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh (BoE) Andrew Bailey cho biết việc cắt giảm lãi suất vào tháng 3 là có thể xảy ra nhưng thừa nhận rằng các dịch vụ lạm phát vẫn ở mức cao.
AUD/USD tăng hơn 0,85% và giao dịch quanh vùng giá 0,7120 sau khi Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 của Úc tăng 3,8% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt dự báo, trong khi chỉ số trung bình điều chỉnh tăng từ 3,3% lên 3,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) Michelle Bullock nhận xét rằng nền kinh tế đang ở vị thế khá tốt.
USD/JPY đang giao dịch quanh mức 156,40, tiến gần mức cao nhất trong gần ba tuần trong bối cảnh bất ổn ngày càng gia tăng về triển vọng lãi suất của Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ). Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi đã bày tỏ sự dè dặt về việc tăng lãi suất thêm nữa trong cuộc gặp với Thống đốc BoJ Kazuo Ueda tuần trước.
Giá vàng đang giao dịch ở mức 5.205 USD, tăng 0,75% trong ngày và đang phục hồi một phần những tổn thất của ngày thứ Ba, cố gắng lấy lại đà tăng trong bối cảnh bất ổn địa chính trị.
Thứ Năm, ngày 26 tháng 2:
Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2:
Vàng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử loài người vì nó được sử dụng rộng rãi như một phương tiện lưu trữ giá trị và phương tiện trao đổi. Hiện nay, ngoài độ sáng bóng và công dụng làm đồ trang sức, kim loại quý này được coi rộng rãi là một tài sản trú ẩn an toàn, nghĩa là nó được coi là một khoản đầu tư tốt trong thời kỳ hỗn loạn. Vàng cũng được coi rộng rãi là một biện pháp phòng ngừa lạm phát và chống lại sự mất giá của tiền tệ vì nó không phụ thuộc vào bất kỳ đơn vị phát hành hoặc chính phủ cụ thể nào.
Ngân hàng trung ương là những người nắm giữ Vàng lớn nhất. Với mục tiêu hỗ trợ đồng tiền của mình trong thời kỳ hỗn loạn, các ngân hàng trung ương có xu hướng đa dạng hóa dự trữ của mình và mua Vàng để cải thiện sức mạnh được nhận thức của nền kinh tế và đồng tiền. Dự trữ Vàng cao có thể là nguồn tin cậy cho khả năng thanh toán của một quốc gia. Theo dữ liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới, các ngân hàng trung ương đã bổ sung 1.136 tấn Vàng trị giá khoảng 70 tỷ đô la vào dự trữ của mình vào năm 2022. Đây là mức mua hàng năm cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi chép. Các ngân hàng trung ương từ các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ đang nhanh chóng tăng dự trữ Vàng của mình.
Vàng có mối tương quan nghịch đảo với Đô la Mỹ và Kho bạc Hoa Kỳ, cả hai đều là tài sản dự trữ và trú ẩn an toàn chính. Khi Đô la mất giá, Vàng có xu hướng tăng, cho phép các nhà đầu tư và ngân hàng trung ương đa dạng hóa tài sản của họ trong thời kỳ hỗn loạn. Vàng cũng có mối tương quan nghịch đảo với tài sản rủi ro. Một đợt tăng giá trên thị trường chứng khoán có xu hướng làm suy yếu giá Vàng, trong khi bán tháo trên các thị trường rủi ro hơn có xu hướng ủng hộ kim loại quý.
Giá có thể biến động do nhiều yếu tố khác nhau. Bất ổn địa chính trị hoặc lo ngại về suy thoái kinh tế sâu có thể nhanh chóng khiến giá Vàng tăng cao do tình trạng trú ẩn an toàn của nó. Là một tài sản không có lợi suất, Vàng có xu hướng tăng khi lãi suất thấp hơn, trong khi chi phí tiền tệ cao hơn thường gây áp lực lên kim loại màu vàng. Tuy nhiên, hầu hết các động thái đều phụ thuộc vào cách Đồng đô la Mỹ (USD) hoạt động vì tài sản được định giá bằng đô la (XAU/USD). Đồng đô la mạnh có xu hướng giữ giá Vàng được kiểm soát, trong khi đồng đô la yếu hơn có khả năng đẩy giá Vàng lên.