
Đồng Euro giảm nhẹ trong phiên giao dịch Bắc Mỹ, chạm mức dưới 1.1900 so với đồng đô la Mỹ khi một số quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phản đối việc cắt giảm lãi suất thêm nữa, mặc dù dữ liệu doanh số bán lẻ của Mỹ đã làm các nhà giao dịch thất vọng. Tại thời điểm viết bài, EUR/USD giao dịch ở mức 1.1895 sau khi đạt mức cao nhất trong ngày là 1.1928.
Tâm lý thị trường vẫn tiêu cực khi thị trường chứng khoán Mỹ chuyển sang sắc đỏ trong ngày. Dữ liệu kinh tế từ Mỹ cho thấy các hộ gia đình đang phải vật lộn với giá cả tăng cao và bày tỏ lo ngại về thị trường lao động, khi doanh số bán lẻ tháng 12 đạt 0% so với tháng trước, thấp hơn ước tính tăng 0,4% và mức tăng 0,6% của tháng 11.
Đồng thời, Chỉ số Chi phí Việc làm (ECI) quý cuối năm 2025 tăng 0,7% so với quý trước, thấp hơn mức tăng 0,8% của quý từ tháng 7 đến tháng 9 và không đạt kỳ vọng. Báo cáo cho thấy thị trường lao động đang có một số điểm yếu khi các nhà hoạch định chính sách sử dụng ECI như một thước đo về sự dư thừa việc làm.
Trong khi đó, các Chủ tịch Ngân hàng Khu vực của Cục Dự trữ Liên bang đã đưa ra những quan điểm trái chiều. Chủ tịch Fed Dallas, Lorie Logan, nhận xét rằng chính sách tiền tệ đang ở trạng thái trung lập, rủi ro lạm phát nghiêng về phía tăng và bà lo ngại về điều đó hơn là rủi ro tăng trưởng giảm.
Trước đó, Chủ tịch Fed Cleveland, Beth Hammack, cũng có quan điểm cứng rắn, cho rằng “điều quan trọng là phải đạt được mức lạm phát 2% trước khi thay đổi lãi suất một lần nữa”. Bà nói thêm rằng lạm phát hiện đang quá cao và các vấn đề về thuế quan vẫn còn tồn tại.
Tại châu Âu, chương trình nghị sự kinh tế vắng bóng vào thứ Ba, nhưng Chủ tịch Ủy ban Trung ương châu Âu Christine Lagarde dường như tự tin rằng lạm phát trong khối sẽ ổn định ở mức khoảng 2% trong trung hạn.
Ngoài sự khác biệt giữa Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), xu hướng tăng giá tiếp theo của EUR/USD vẫn được ủng hộ. Dữ liệu từ Prime Market Terminal cho thấy thị trường tiền tệ đã phản ánh việc Fed giảm lãi suất gần 60 điểm cơ bản. Ngược lại, ECB dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất trong suốt năm và động thái đầu tiên được dự đoán là tăng lãi suất.

Khu vực Euro sẽ có các bài phát biểu của Mario Cipollone và Isabel Schnabel từ ECB. Ở bên kia Đại Tây Dương, các nhà giao dịch sẽ theo dõi số liệu việc làm phi nông nghiệp, cập nhật tỷ lệ thất nghiệp và các bài phát biểu của các quan chức Fed Jeffrey Schmid, Michell Bowman và Beth Hammack.
Bảng bên dưới hiển thị tỷ lệ phần trăm thay đổi của Đồng Euro (EUR) so với các loại tiền tệ chính được liệt kê tuần này. Đồng Euro mạnh nhất so với Đô la Mỹ.
| USD | EUR | GBP | JPY | CAD | AUD | NZD | CHF | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| USD | -0.68% | -0.43% | -2.02% | -0.89% | -0.95% | -0.46% | -1.27% | |
| EUR | 0.68% | 0.23% | -1.40% | -0.22% | -0.21% | 0.27% | -0.56% | |
| GBP | 0.43% | -0.23% | -1.33% | -0.45% | -0.43% | 0.00% | -0.89% | |
| JPY | 2.02% | 1.40% | 1.33% | 1.19% | 1.11% | 1.59% | 0.77% | |
| CAD | 0.89% | 0.22% | 0.45% | -1.19% | 0.02% | 0.40% | -0.44% | |
| AUD | 0.95% | 0.21% | 0.43% | -1.11% | -0.02% | 0.48% | -0.46% | |
| NZD | 0.46% | -0.27% | -0.00% | -1.59% | -0.40% | -0.48% | -0.89% | |
| CHF | 1.27% | 0.56% | 0.89% | -0.77% | 0.44% | 0.46% | 0.89% |
Bản đồ nhiệt hiển thị phần trăm thay đổi của các loại tiền tệ chính so với nhau. Đồng tiền cơ sở được chọn từ cột bên trái, và đồng tiền định giá được chọn từ hàng trên cùng. Ví dụ: nếu bạn chọn Đồng Euro từ cột bên trái và di chuyển dọc theo đường ngang sang Đô la Mỹ, phần trăm thay đổi được hiển thị trong ô sẽ đại diện cho EUR (đồng tiền cơ sở)/USD (đồng tiền định giá).
Xu hướng của EUR/USD là trung lập, sau khi thiết lập mức đáy thấp hơn cao hơn sau khi đạt mức cao nhất năm là 1.20979 ở khoảng 1.1765. Kể từ đó, cặp tiền này đã tăng lên mức 1.1900, mặc dù đà tăng đã giảm như được thể hiện bởi Chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI).
Để có kết quả tăng giá, các nhà giao dịch đang nhắm đến một sự phá vỡ quyết định trên mức 1.1900. Sau khi vượt qua mức này, điểm dừng tiếp theo sẽ là mức cao nhất ngày 30 tháng 1 ở 1.1974, tiếp theo là mức đỉnh ngày 29 tháng 1 ở 1.1996 trước khi tiến đến 1.2000.
Ngược lại, nếu phe gấu đẩy giá xuống dưới vùng 1.1850, nó sẽ để lộ mức 1.1800, tiếp theo là mức thấp nhất chu kỳ ngày 6 tháng 2 ở 1.1765. Việc phá vỡ mức này sẽ mở ra cơ hội kiểm tra đường trung bình động giản đơn 100 ngày (SMA) ở mức 1.1681, trước khi tiến đến đường SMA 200 ngày ở mức 1.1625.

Euro là đồng tiền của 19 quốc gia Liên minh châu Âu thuộc Khu vực đồng tiền chung châu Âu. Đây là đồng tiền được giao dịch nhiều thứ hai trên thế giới sau Đô la Mỹ. Năm 2022, đồng tiền này chiếm 31% tổng số giao dịch ngoại hối, với doanh thu trung bình hàng ngày là hơn 2,2 nghìn tỷ đô la một ngày. EUR/USD là cặp tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới, chiếm ước tính 30% tổng số giao dịch, tiếp theo là EUR/JPY (4%), EUR/GBP (3%) và EUR/AUD (2%).
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) tại Frankfurt, Đức, là ngân hàng dự trữ của Khu vực đồng tiền chung châu Âu. ECB thiết lập lãi suất và quản lý chính sách tiền tệ. Nhiệm vụ chính của ECB là duy trì sự ổn định giá cả, nghĩa là kiểm soát lạm phát hoặc kích thích tăng trưởng. Công cụ chính của ECB là tăng hoặc giảm lãi suất. Lãi suất tương đối cao - hoặc kỳ vọng lãi suất cao hơn - thường sẽ có lợi cho đồng Euro và ngược lại. Hội đồng quản lý ECB đưa ra quyết định về chính sách tiền tệ tại các cuộc họp được tổ chức tám lần một năm. Các quyết định được đưa ra bởi người đứng đầu các ngân hàng quốc gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu và sáu thành viên thường trực, bao gồm Thống đốc ECB, Christine Lagarde.
Dữ liệu lạm phát của Khu vực đồng tiền chung châu Âu, được đo bằng Chỉ số giá tiêu dùng đã cân đối (HICP), là một phép đo kinh tế quan trọng đối với đồng Euro. Nếu lạm phát tăng cao hơn dự kiến, đặc biệt là nếu vượt quá mục tiêu 2% của ECB, ECB buộc phải tăng lãi suất để đưa lạm phát trở lại tầm kiểm soát. Lãi suất tương đối cao so với các mức lãi suất tương đương thường có lợi cho đồng Euro, vì khiến khu vực này trở nên hấp dẫn hơn như một nơi để các nhà đầu tư toàn cầu gửi tiền.
Dữ liệu công bố đánh giá sức khỏe của nền kinh tế và có thể tác động đến đồng Euro. Các chỉ số như GDP, PMI sản xuất và dịch vụ, việc làm và khảo sát tâm lý người tiêu dùng đều có thể ảnh hưởng đến hướng đi của đồng tiền chung. Một nền kinh tế mạnh mẽ là điều tốt cho đồng Euro. Nó không chỉ thu hút nhiều đầu tư nước ngoài hơn mà còn có thể khuyến khích Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất, điều này sẽ trực tiếp củng cố đồng Euro. Nếu không, nếu dữ liệu kinh tế yếu, đồng Euro có khả năng giảm. Dữ liệu kinh tế của bốn nền kinh tế lớn nhất trong khu vực đồng euro (Đức, Pháp, Ý và Tây Ban Nha) đặc biệt quan trọng vì chúng chiếm 75% nền kinh tế của Khu vực đồng euro.
Một dữ liệu quan trọng khác được công bố cho đồng Euro là Cán cân thương mại. Chỉ số này đo lường sự khác biệt giữa số tiền một quốc gia kiếm được từ xuất khẩu và số tiền quốc gia đó chi cho nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu một quốc gia sản xuất hàng xuất khẩu được săn đón nhiều thì đồng tiền của quốc gia đó sẽ tăng giá trị hoàn toàn từ nhu cầu bổ sung được tạo ra từ những người mua nước ngoài muốn mua những hàng hóa này. Do đó, Cán cân thương mại ròng dương sẽ củng cố đồng tiền và ngược lại đối với cán cân âm.